Thư mục

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Đoàn Thị Ái Phương)

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Bỏ phiếu

    Cám ơn bạn đã ghé thăm thư viện. Bạn vui lòng cho biết bạn là ai?
    Giáo viên mầm non trong Tỉnh
    Giáo viên Tiểu học trong Tỉnh
    Giáo viên Trung học trong Tỉnh
    Giáo viên ngoài Tỉnh
    Học sinh

    Ảnh ngẫu nhiên

    GenhBan_do_34_tinh_thanh_Viet_Nam.jpg Chair.png Pencil_1.png Tree_4.png ClipartKey_135539.png ClipartKey_39026.png ClipartKey_191402.png Lich_61.jpg 16.png Cay_Tao_3.png Z7733876028798_001593801c3bd9e6264d384050506f36.jpg Z7733875978105_82cd62ff3905dbecd92f3618c59a0039.jpg Z7733876002920_70f4d25533d23bc6012d8e4972f6c4c0.jpg Z7733875978105_82cd62ff3905dbecd92f3618c59a0039.jpg Z7733875930612_cc1baf2f3b6f20f1e4708b0616cb7f74.jpg Z7733875909762_7bba7009fbfcbffc3f15775e8468f4f0.jpg Z7733875880424_1159774eea1ac110f89795e318100487.jpg Z7733875852239_be0f0d2a74786a8aab375cbe50fd1972.jpg Z7733875840964_3aa74673d73c8e869165e6e8c8a2860f.jpg Z7733875956487_b8b5e3431fa35469b52707f64c391d34.jpg

    Thành viên trực tuyến

    5 khách và 0 thành viên

    Sắp xếp dữ liệu

    Vũ Trung tùy bút

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn: sachmoi.net
    Người gửi: Thư viện THCS Trần Phú
    Ngày gửi: 21h:17' 31-05-2024
    Dung lượng: 560.0 KB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Thông tin ebook
    Tên sách: Vũ Trung Tùy Bút
    Tác giả: Phạm Đình Hổ
    Bản dịch: Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến
    Thể loại: Culture
    NXB:nhà xuất bản văn nghệ &hội nghiên cứu và giảng dạy văn học tp. hồ chí minh
    Nguồn: tducchau (e-thuvien.com)
    Tạo và hiệu chỉnh ebook: Hoàng Nghĩa Hạnh
    Thư viện ebook SachMoi.Net

    LỜI NÓI ĐẦU
    Nước ta hiện nay đang trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa và mở cửa tiếp xúc rộng rãi với
    thế giới. Phải có bản lĩnh tiếp thu tinh hoa văn hóa của thế giới để làm phong phú cho nền văn hóa của
    dân tộc mình. Nhưng muốn thế nhất thiết phải củng cố cái gốc của văn hóa dân tộc, bồi dưỡng tinh hoa
    văn hóa dân tộc cho các thế hệ, nhất là thế hệ trẻ để cho họ ý thức được những giá trị tinh thần đẹp đẽ
    của dân tộc mình, như vậy khi tiếp xúc với nền văn hóa các nước, họ biết chủ động tiếp thu những cái
    hay, cái đẹp của người, và dị ứng lại với những cái xấu, cái độc hại. Xuất phát từ nhận thức này, Hội
    nghiên cứu và Giảng dạy Văn học Thành phố Hồ Chí Minh quyết định tổ chức biên soạn tử sách VĂN
    HỌC VIỆT NAM, NHỮNG TÁC PHẨM TIÊU BIỂU.
    Tủ sách sẽ cung cấp cho đông đảo bạn đọc, trước hết là bạn đọc trẻ, cho thanh niên, học sinh, sinh
    viên ở các trường phổ thông và đại học những tác phẩm ưu tú của văn học dân tộc, từ văn học dân
    gian đến văn học viết, từ văn học cổ đến văn học cận, hiện đại... Thông qua tủ sách này bạn đọc sẽ
    cảm nhận được vẻ đẹp của tâm hồn con người Việt Nam, sức sống và cá tính của dân tộc Việt Nam,
    cùng với cái hay, cái đẹp của tiếng Việt và văn chương Việt Nam.
    Để phản ánh cho đúng những thành tựu của văn học dân tộc, trong tủ sách có tập là một tác phẩm được
    in trọn vẹn, có tập là tuyển của một tác giả, hoặc một phong trào, một thể loại...
    Chúng tôi cố gắng cung cấp cho bạn đọc những văn bản được in lần đầu tiên đối với bộ phận văn học
    quốc ngữ, còn những văn bản thuộc phạm vi văn học Hán Nôm thì ngoài việc in bản dịch, hoặc bản
    phiên âm chúng tôi cho in kèm theo văn bản chữ Hán hoặc chữ Nôm để cho các bạn có thể đối chiếu
    khi cần thiết.
    Xin trân trọng giới thiệu tủ sách với đông đảo bạn đọc.
    GS. Hoàng Như Mai
    Chủ tịch Hội Nghiên cứu và Giảng dạy Văn học
    Thành phố Hồ Chí Minh

    LỜI GIỚI THIỆU
    Một trong những tác giả nổi tiếng về thể loại truyện ký ở nước ta nửa cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19 là
    Phạm Đình Hổ. Ông trước tác khá nhiều, trong đó, Vũ trung tùy bút là bức tranh toàn cảnh sinh động
    về xã hội đời Lê-Trịnh, là tài liệu tốt cho những ai muốn nghiên cứu, tìm hiểu phong tục, tập quán,
    sinh hoạt của con người thời này.
    Phạm Đình Hổ sinh năm 1768, tự Tùng Niên và Bỉnh Trực, hiệu là Đông Dã Tiều, còn có biệt hiệu là
    Hy Kiều Phủ, người đời thường gọi là Cụ Tế Đan Loan (1). Ông quê ở xã Đan Loan, huyện Đường
    An, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương, nay là thôn Đan Loan, xã Nhân Quyền, huyện Cẩm Bình, tỉnh
    Hải Dương (2). Nhà ở phường Hà Khẩu (3), huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức, thuộc thành Thăng
    Long (nay thuộc khu vực phường Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội).
    Ông xuất thân từ gia đình khoa bảng. Cha đậu cử nhân làm chức Hiến sát dưới triều Lê Cảnh Hưng
    (1740), nhưng mất sớm lúc ông mới 10 tuổi, gia đình trở nên túng bấn. Anh trưởng, anh thứ của ông
    đều yểu mệnh. Vợ ông chết sớm liền sau cái chết của con trai lớn, để lại đứa con sau ốm yếu. Mặc dù
    chịu nhiều đau thương, bản thân lắm bệnh tật, ông cũng cố gắng đeo đuổi nghiệp khoa cử. Cuối đời Lê
    Cảnh Hưng, ông từng theo học ở trường Quốc Tử Giám. Năm Bính Ngọ (1786) ông chưa kịp đi thi thì
    nhà Lê mất (1789). Mãi đến khi Gia Long lên ngôi, mở các khoa thi, ông đi thi nhiều lần nhưng chỉ
    đậu đến tú tài. Sau bị bệnh, không thể tiếp tục nghiệp khoa cử được, ông dành thì giờ viết sách. Ông
    am tường và nghiên cứu rất nhiều lĩnh vực. Vừa chuyên chí học hành, vừa trước tác, ông có nhiều
    công trình sưu tầm, nghiên cứu có giá trị. Nhờ vậy, năm Minh Mệnh thứ nhất (1820), ông được vua
    vời vào triều cho nhậm chức Hành tẩu bộ Hộ, rồi được bổ vào chức hàn lâm viện hành tẩu. Chẳng bao
    lâu, ông xin từ chức về nhà. Năm Minh Mệnh thứ bảy (1826), ông lại được triệu về triều làm chức
    Hàn lâm viện thừa chỉ kiêm Quốc tử giám tế tửu. Được vài năm ông cáo bệnh về quê, lại được vua
    triệu và ban chức Thị giảng học sĩ. Năm 1839, ông mất, thọ 71 tuổi. Trong suốt quãng đời mình, ông
    sống cuộc sống nhà nghiên cứu, nhà văn nhiều hơn làm quan. Ông để lại nhiều tác phẩm với khá nhiều
    thể loại.
    Về sưu tầm, nghiên cứu, ông có: Lê triều hội điển, Bang giao điển lệ, Cảnh Hưng tân ty sách phong sứ
    quán thư giản chư tập, An Nam chí, Ô châu lục, Ai Lao sứ trình, Đại Man quốc địa đồ, Càn khôn nhất
    lãm, Hi kinh trắc lãi, Khánh An Đan Loan Phạm gia thế phổ, Đan Loan Phạm thị chi hệ thế phổ...
    Về sáng tác, ông có: Vũ trung tùy bút, Nhật dụng thường đàm, Đông Dã học ngôn thi tập, Bạn tiếp tồn
    phụng, Tang thương ngẫu lục (viết chung với Nguyễn Án)...
    Một trong những đặc điểm của nền văn học chữ Hán nước ta từ thế kỷ 18 – đầu thế kỳ 19 là sự phát
    triển của thể ký. Ở thể loại này, người viết ghi lại những điều tai nghe, mắt thấy bằng nghệ thuật mô tả
    sinh động… Ngoài những nguyên nhân khách quan của văn học, yêu cầu phát triển thể loại ký (chủ yếu
    là tạp ký và ký sự), hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ cũng là động cơ quan trọng thôi thúc những người có
    lòng yêu nước, thương dân sáng tác. Phạm Đình Hổ là một điển hình. Dù phải sống trong gia cảnh
    nghèo túng, đau thương, nhưng từ nhỏ ông đã xác định mục đích của kẻ làm trai là: “Lập thân hành
    đạo”. Hơn nữa, trong thời đại ông sống, luân thường đạo lý bị coi thường, trật tự xã hội bị đảo lộn,
    biết bao cảnh ngang trái xảy ra từ vua chúa đến quan lại… Bị áp lực của kẻ cầm quyền, những quan

    hệ trong xã hội đều nghiệt ngã…
    Vũ trung tùy bút (Tùy bút viết trong những ngày mưa) của Phạm Đình Hổ ra đời trong hoàn cảnh ấy.
    Tập trung trong 91 đề mục, tác giả ghi lại những điều tai nghe, mắt thấy trong thực tế hàng ngày, không
    theo một trật tự nào. Bằng thủ pháp mô tả rất sinh động, tỉ mỉ, chân thành, bằng tấm lòng của một
    người ưu thời mẫn thế, Phạm Đình Hổ đã vẽ lại thật sống động lối sống sa đọa của bọn vua chúa, nạn
    hà hiếp dân lành của bọn quan lại, cảnh khốn cùng của dân chúng, cảnh gian lận hay thành kiến nặng
    nề trong thi cử đến những tục lệ của người dân… Mặc dù còn hạn chế ở một số điểm, nhưng Vũ trung
    tùy bút mang một giá trị nhất định về mặt sử học, văn hóa và xã hội học, là tài liệu đáng giá cho những
    ai muốn nghiên cứu xã hội nước ta cuối đời Lê.
    Thực vậy, dưới ngòi bút của ông, việc phản ánh trung thành bộ mặt xã hội đương thời, nhất là thói ăn
    chơi xa hoa, trụy lạc của bọn vua chúa được nói đến trước tiên. Sinh ra trong gia đình nhà nho, bản
    thân từng làm quan phục vụ triều đình, nhưng Phạm Đình Hổ không khỏi bất mãn trước lối sống trái
    đạo của bọn thống trị, trước thái độ coi dân như cỏ rác. Ông kể việc “Trịnh Sâm thích chơi đèn đuốc,
    thường ngự ở các ly cung bên Tây hồ, núi Tử Trầm, núi Dũng Thúy. Việc xây dựng đình đài cứ liên
    miên. Mỗi tháng ba bốn lần, Vương ra cung Thụy Liên trên bờ Tây hồ, binh lính dàn hầu vòng quanh
    bốn mặt hồ, các nội thần thì đều bịt khăn, mặc áo đàn bà, bày bách hóa chung quanh bờ hồ để bán
    (…). Buổi ấy, bao nhiêu loài trân cầm dị thú, cổ mộc quái thạch, chậu hoa cây cảnh ở chốn dân gian,
    chúa đều sức thu lấy, không thiếu một thứ gì (…). Bọn hoạn quan cung cấm lại thường nhờ gió bẻ
    măng, ra ngoài dọ dẫm. Họ dò xem nhà nào có chậu hoa cây cảnh, chim tốt, khướu hay, thì biên ngay
    chữ “phụng thủ”. Đêm đến, các cậu trèo qua tường thành lẻn ra, sai tay chân đem lính tới lấy phăng đi
    rồi buộc cho tội đem dấu vật cung phụng để dọa lấy tiến” (Chuyện cũ trong phủ chúa). Bọn quan lại
    tại chức cũng ăn chơi và dung dưỡng cho con cháu chúng làn càn. Nguyễn Khản làm quan chức Tri
    phiên liêu khiêm Quản nhất hùng cơ, tước Kiều nhạc hầu mê hát xướng, lúc tang cha mà không lúc nào
    trong nhà bỏ tiếng tơ, tiếng trúc, gặp lúc con hát đang có tang cũng bắt hát suốt ngày. Bọn con cháu
    đều bắt chước chơi bời thành quen (Nhà họ Nguyễn ở Tiên Điền).
    Ở đất kinh thành mà nhan nhản “những kẻ đầy tớ nhà quan, du đãng cờ bạc, gây chuyện đánh nhau, cãi
    nhau, cùng là những kẻ vô lại trộm cắp, nhiều lắm không kể xiết được” (Lục hải). Những kẻ cáo quan
    về hưu cũng không quên thói gian tham, chuyên làm đơn từ xui kẻ kiện cáo, gây thói điêu ngoa (Áo
    mặc).
    “Phụ mẫu” của dân đã thế thì người dân tránh sao được cảnh đời gian nan, cơ cực. Cuộc sống vốn khó
    khăn, người dân còn bị tròng lên cổ những tệ nạn phục dịch cho quan. Kẻ nào đỗ khoa Đông các khi
    vinh quy dân bản tổng phải đến phục dịch. “Còn đến như làm nhà tư thất, phục dịch việc gì cũng đổ
    lên đầu dân cả thì dân làng tổng làm sao chịu được” (Việc thi cử). “Bà Võ Thái phí theo hầu chúa
    Trịnh là Hi tổ Nhân vương (Trịnh Cương) dung dưỡng cho bọn con cháu họ hàng làm càn, bắt dân đi
    phu, lấy đá làm từ đường” (Võ Thái phi). Không chịu được sự bóc lột hà khắc, nhân dân vùng ấy nổi
    lên đốt phá nhà từ đường, chống lại triều đình. Sống thời nhiễu loạn, “người dân còn sống sót phải đi
    bóc vỏ cây, bắt chuột đồng mà ăn. Mỗi một mẫu ruộng chỉ bán được một cái bánh nướng”, có người bị
    chết đói. Thê thảm nhất là có nơi người ta làm cả thịt người! (Võ Thái phi).
    Trong hoàn cảnh đen tối ấy, những sĩ tử nào ôm mộng thi đỗ làm quan để cứu khổ cho dân, thì thật là
    hiếm hoi. Bởi vì “Những kẻ chỉ học lỏm được mấy câu mép, nào có quan thiết gì đến đạo tu, tề, trị,
    bình, thế mà đã ngang nhiên tự đắc” (Học thuật). Mục đích của họ chỉ đủ “để vinh thân phì da và làm

    cho họ hàng được nhờ mà thôi, chứ có ích chúa lợi dân gì cho người đời nhờ cậy đâu! Huống chi học
    thuật đã bất chính, đến khi ứng dụng ra đời thì chỉ làm hại cho thiên hạ, đáng để cho người ta trách
    mắng”.
    Nhưng để được đề danh bảng hổ cũng còn là vấn đề vô cùng khó khăn. Bởi việc thi cử trong giai đoạn
    này không còn được triều đình xem trọng. Tình trạng những kẻ quyền thế gian lận, đút lót quan chấm
    thi, gửi gắm con em để được thi đỗ rất phổ biến (Khoa cử). Do chính thể ngày càng đồi bại nên hiện
    tượng thi giúp, làm bài sẵn, tìm cách biết đề trước ngày càng nhiều. Tệ hại nhất là thành kiến nặng nề
    của các quan giám khảo đối với những bài nào có “khẩu khí của Ngô Thì Sĩ” vì họ ganh ghét tài hay
    chữ nổi tiếng của ông và “sẵn sàng bới móc, đánh hỏng đi”.
    Những hiện tượng tiêu cực còn xảy ra do những hạn chế của chế độ thi cử đương thời. Có kẻ vinh quy
    “chỉ dòm lấy con gái nhà giàu mà bỏ vợ tao khang; hoặc cịu tiếng luồn lỏi đi vay lãi mà ký liều văn
    khế nên đã có cái tiếng ông Nghè đeo nợ, bà Nghè mua chồng không kể xiết được” (Việc thi cử). Có
    kẻ mê danh đem con gái cho phường lừa đảo mà cứ tưởng là quan trạng, quan thám tương lai, chừng
    biết ra mình bị lừa thì ngỡ ngàng, đau đớn (Mẹo lừa).
    Tác giả cũng hết sức phản đối những đồi phong bại tục còn tồn tại trong cuộc sống người dân. Là một
    nhà nho chính thống, nên những suy nghĩ của ông dực trên những chuẩn mực của thời đại phong kiến,
    của tư tưởng nho giáo cổ xưa để đánh giá, phê phán những hiện tượng sai lệch đương thời. Ông tỏ thái
    độ bất mãn trước những thủ tục vô lý, bất nhân trong các lễ cưới, lễ tang. Do sĩ diện mà chủ nhân tổ
    chức linh đình để sau đó phải bán cả ruộng nương, mang đeo nợ nần. Tục lệ này lâu dần thành lệ làng,
    người dân bị hạch sách phải thực hiện hủ tục khi có lễ tang, ngày kỵ hay lễ cưới. Ông cũng kịch liệt
    phản đối chuyện dân làng mê tín thờ cả hổ, trẻ con và mụ đàn bà dâm ô làm thần…
    Sự đi xuống của phong tục do nhiều nguyên nhân, nhưng một trong những nguyên nhân quan trọng là do
    vua chúa quan lại không làm gương tốt cho dân. Chính vua chúa quan lại cùng họ hàng ngoại thích
    ngang nhiên biến đổi cho lệch lạc những nền nếp tốt đẹp có sẵn từ bao đời. Từ nếp ăn, nếp mặc đến
    cách cư xử, giao tế lễ độ… đều bị bóp méo mỗi ngày một khác. “Nếu có người không chịu thay đổi,
    thì lại hùa nhau chê cười, thậm chí muốn hãm hại và xô đổ đi” (Phong tục).
    Do nền tảng xã hội bị băng hoại nên quan hệ giữa con người cũng suy đồi: kẻ dưới xem thường người
    trên, kẻ vô lại lấy vợ, lấy luôn cả con gái của vợ (Tệ tục)…
    Tuy nhiên, nỗi đắng cay, bất mãn với cảnh đời đầy nhiễu nhương lức bấy giờ cũng không làm Phạm
    Đình Hổ quên đi niềm thú vị của lối trồng hoa, cách uống chè nhà nghề, hay sự thưởng thức văn học
    nghệ thuật qua những buổi bình văn thơ trong nhà giám… Những đoạn miêu tả tỉ mỉ, thú vị ấy gây cho
    người đọc một cảm giác thích thú về những kiểu cách sinh hoạt mang đậm tính văn hóa của người xưa.
    Tác giả không chỉ đưa chúng ta đến những cảnh đẹp thiên nhiên, thưởng lãm những danh thắng của đất
    nước, mà còn cho biết ngọn nguồn, lịch sử của những nơi ấy. Mỗi nét bút ghi lại thắng cảnh hay nét
    đặc thù của một số địa phương đều thắm đượm lòng tự hào dân tộc, tự hào về một đất nước ngàn năm
    văn hiến, trước những con người tài giỏi được hun đúc từ tinh hoa của tổ quốc. Ông tự hào đặt đất
    nước mình ngang tầm với nước lớn Trung Hoa với niềm tự hào của người con nước Việt.
    Nhìn chung, qua Vũ trung tùy bút, người đọc nhất là những ai muốn nghiên cứu văn hóa, văn học, lịch
    sử, địa lý, phong tục Việt Nam giai đoạn cuối đời Lê sẽ thu thập được những điều bổ ích và thú vị,

    đặc biệt những điều mà trong lích sử không thấy ghi chép, sẽ gây cho người đọc sự ngạc nhiên, thích
    thú. Vũ trung tùy bút mang một văn phong sinh động, rõ ràng, tự nhiên, chi tiết tỉ mỉ, cụ thể tạo thành
    một lối văn như lối ghi chép nhật ký hay sổ tay, có sức hấp dẫn nhất định khó quên.
    Lần đầu tiên, Vũ trung tùy bút được Nguyễn Hữu Tiến dịch ra tiếng Việt. Cho đến nay, bản dịch này
    được xem là tốt nhất. Nguyễn Hữu Tiến biệt hiệu Đông Châu, một học giả nghiên cứu lịch sử và văn
    học dân tộc có uy tín. Bản dịch này đã được đăng trên tạp chí Nam Phong số 121 tháng 9 năm 1927.
    Sau đó, Vũ trung tùy bút đước nhà xuất bản Văn học – Hà Nội tái bản hai lần nữa (lần thứ nhất, năm
    1960, Hoàng Hữu Yên giới thiệu, lần thứ hai, năm 1972, Trương Chính giới thiệu và chú thích). Trong
    lần hiệu đính bản dịch này, chúng tôi dùng Vũ trung tùy bút bản chữ Hán do Pháp quốc Viễn đông Học
    viện xuất bản, Đài loan học sinh thư cục ấn hành. Trong đó, Vũ trung tùy bút là tập hai, sách thứ năm
    trong hàng loạt tác phẩm chữ Hán của Việt Nam được ấn hành với tựa đề Việt Nam Hán văn tiểu
    thuyết tùng san do Trần Khánh Hạo, Trịnh A Tài, Trần Nghĩa chủ biên. Nhà xuất bản chọn ba bản sau
    đáng tin cậy nhất được cất giữ tại Việt nghiên cứu Hán Nôm (Hà Nội). Trong đó, có hai bản ký hiệu
    A1297, A2312 được sao chép từ thời Tự Đức, viết theo lối chữ thảo. Bản A2312 chỉ còn 15 tiểu
    mục, nên chỉ để tham khảo. So với hai bản kia, bản VHV1466 đầy đủ hơn, được dùng làm bản chính
    của tập sách này. Bản này được mô tả như sau:
    Ở giữa trang bìa của bản này có đề chữ ”Vũ trung tùy bút quyển thượng”, chung quanh bìa có đóng
    khung; tiếp phía dưới bên trái có ghi “Trần Lưu Thiển phụng sao”; phía trên bên phải đề “Hoàng triều
    Bảo Đại tân tỵ quý đông (năm 1941)”. Trang đầu ghi “Vũ trung tùy bút quyển thượng, Hải Dương,
    Đan Loan, Phạm Tùng Niên”. Quyển này không có bài tựa. Phần chính văn khoảng nửa sách có tám
    hàng, mỗi hàng từ 26 chữ đến 30 chữ kho6gn đều nhau. Ở trên là thứ tự tên sách, ở giữa là tiêu đề “Cố
    sự danh”, bên dưới ghi số trang. Sách này chia ra hai quyển thượng và hạ, không có mục lục.
    Dựa vào những đặc điểm trên, chúng tôi tạm gọi là bản gốc.
    So bản dịch của Nguyễn Hữu Tiến với bản gốc, chúng tôi nhận thấy có, một vài tên người, tên đất đọc
    theo âm thuần Việt hay những câu thơ chữ Nôm không được viết chính xác trong bản gốc. Ví dụ trong
    Tự thuật, bản dịch ghi rõ: “Lúc bấy giờ, đấng tiên đại phu ta làm Hiến sát tỉnh Nam mới về” (trang
    17). Bản gốc là (…) (Tiên đại phu tòng Nam tỉnh hồi = Cha ta từ tỉnh Nam mới về) (trang 9). Ở đoạn
    khác bản dịch ghi: “Phía tây xối nước là nhà khách năm gian (trang 19), bản gốc là (…) (Tây Thừa
    tiếp lưu = tây Thừa tiếp xối nước) (trang 10). Trong Phạm Trấn, Đỗ Uông, bản dịch ghi: “Lúc đến cầu
    Phú Cốc có thi nhau làm thơ “Cô lan bán hàng cầu Cốc”, còn bản gốc chỉ là (…) (Chí Phú Cốc kiều
    đổ thi = đến cầu Phú Cốc làm bài thơ) (trang 93). Trong Xét về địa mạch và nhân vật, bản dịch ghi là
    Tô Hiến Thành (trang 47), còn bản gốc là Tô Trung Hiến (trang 26)… Còn có trường hợp như trong
    bản gốc, tên đất, tên chức quan, tên người đọc theo âm Hán Việt không được viết như tên riêng. Ví dụ
    trong Bàn về âm nhạc, bản dịch ghi “Đến cuối đời Tống, Ngụy rợ Thị Khương lấn đất Trung Nguyên,
    thanh âm của Trung Hoa chỉ còn ở phía Giang Tả (trang 53), nhưng chữ Giang Tả trong bản gốc chỉ in
    thường (trang 30). Cũng giống như vậy, trong bản dịch ghi sách Nhạc chí, Nhạc thư (trang 55), nhưng
    trong bản gốc kho6gn viết thành tên sách, chỉ viết thường (trang 30). Trong Hôn lễ, bản dịch ghi: “Đến
    khi xem tờ chiếu năm Minh Đức nhà Mạc, mới biết trước là chữ “lan nhai”, sau dùng lầm thành “lan
    giai” (trang 67), bản gốc ghi là (…) (Thủy tri lan hoàn cựu vi lan nhai = mới biết lan hoàn trước là
    lan nhai) (trang 39). V.v… Cá biệt có những năm, tháng, nhà xuất bản ghi khác với bản dịch. Ví dụ
    năm sinh của Phạm Đình Hổ là 1768, còn bản gốc lại ghi năm 1766. Sau khi tham khảo và tra cứu lại,

    chúng tôi theo bản dịch.
    So với bản gốc, bản dịch của Nguyễn Hữu Tiến cũng có vài chỗ thiếu và không chính xác, thường là
    những đoạn miêu tả, vị trí và địa danh. Ví dụ trong Cảnh chùa Sơn Tây, bản gốc ghi (…) (Tiền đường
    tả hữu phụng Chiên Đàn Phật = phía trái và phải gian tiền đường có thờ Phật Chiên Đàn), nhưng trong
    bản dịch không có danh hiệu Phật Chiên Đàn (trang 26). Đôi khi có chỗ phiên âm không đúng. Trong
    Thay đổi địa danh, bản gốc viết là (…) (Lương Giang cải vi Đoan Nguyên = Lương Giang đổi thành
    Đoan Nguyên) (trấng). Còn bản dịch là “Lương Giang đổi thành Thụy Nguyên) (trang 31). Trong Lối
    chữ viết, bản gốc viết (…) (Thủ pháp Tống nhân, thuyết cụ An Nam kỷ lược = Theo lối viết của người
    Tống như đã nói trong sách An Nam kỷ lược) (trang 20). Còn bản dịch là: “… ở trong sách An Nam
    kíp lược” (trang 39). Trong Thay đổi địa danh, bản gốc viết (…) (Nhất minh xưng: “Đống ngạch
    phường, Diên Hựu tự chung, Diên Hựu nhị niên chú, tín hoạn Tống Trân thi kim nhất lượng” = Bài
    minh viết: “Chuông chùa Diên Hựu ở phường Đống Ngạch được viết vào năm thứ hai, người tín đồ
    làn quan tên Tống Trân cúng một lạng vàng”) (trang 15). Còn bản dịch là “Đông Ngạc phường, Diên
    Hỗ tự chung, Diên Hựu nhi niên chú, tín hoạn Tôn Trần thi kim nhất lạng” (trang 29). Có đoạn dịch
    còn thiếu sót. Trong Cách uống chè, bản gốc là (…) (Địa sản lệ chi, Phù Lâu thôn, Quách Lâm khê
    phả xưng u thắng = Thổ sản có quả vải ở ngòi Lâm Khê, thôn Phù Lâu, nơi được xem là tĩnh mịch, đẹp
    đẽ) (trang 23). Còn bản dịch là: “Thổ sản có thứ vải quả, rau dưa làng xóm rừng khe, cũng nhiều chỗ
    tĩnh mịch, đẹp đẽ” (trang 44). Có chỗ thiếu hẳn một đoạn dài. Trong Điềm quái gở, bản dịch thiếu cả
    một đoạn đầu (…) (Tây nhân Nhâm tuất Xuân An sơn thạch thán, hữu hoàng ngưu sản nam tử, sổ nhật
    bạo trưởng như thập nhị, tam tuế nhi, hạm hạ xuất tì, thực bội thường nhân, duy bất năng ngôn hành nhỉ.
    Hoặc khủng kỳ vi yêu, mật sát nhi ế chi. Tật dịch đại tác, tài nguyệt dư, ấp nhân tử giả số bách. Hữu
    cử hộ chẩm tịch nhi đồng tận giả, nhân đa viễn thoán nhi ty chi vân = Năm Nhâm Tuất, phía tây núi
    than đá Xuân An có một con bò sinh ra một đứa con trai, chỉ mới vài ngày mà lớn bằng trẻ 12, 13
    tuổi, lại có râu. Có người sợ cho đó là yêu quái, lén giết rồi chôn đi. Sau bệnh dịch tràn lan, chỉ mới
    hơn một tháng mà dân ấp ấy chết cả trăm người. Người bệnh ngổn ngang ngoài đường chờ chết. Nhiều
    người phải dời đi xa để tránh dịch bệnh) (bản gốc trang 61, bản dịch trang 100). Những chỗ thiếu sót
    này chúng tôi đã bổ xung lại cho đầy đủ dựa theo bản gốc, ngoài ra còn giải thích, chú thích thêm một
    số từ cho dễ hiểu, tiện việc sử dụng và tra cứu.
    ĐÀM ÁNH LOAN
    _______
    (1) Có người cho rằng ông chính là Chiêu Hổ, người xướng họa văn thơ với nữ sĩ Hồ Xuân Hương.
    Vấn đề này chưa được minh xác.
    (2) Trương Chính chú thích là Hải Hưng.
    (3) Căn cứ vào bài Chuyện cũ trong phủ chúa và Mấy năm được mùa thì nhà ông ở phường Hà Khẩu.
    Nhưng trong bài "Hành tại diện đối" trong Châu Phong tạp thảo của chính tác giả lại nói ở phường
    Thái Cực. (Tạp chí Hán Nôm, số 4. 1996)

    TỰ THUẬT
    Ta sinh năm Mậu Tý (1768) niên hiệu Cảnh Hưng. Lúc bấy giờ tiên đại phu ta là Hiến sát tỉnh Hà
    Nam mới về. Bà tiên cung nhân (1) hoài thai ta, vẫn ăn uống đi lại như thường, đến bảy tám tháng
    chưa biết là có thai. Năm ta lên sáu tuổi, đấng tiên đại phu ta mới thăng làm Tuần phủ Sơn tây, bổng
    lộc đã dư dụ, song những cách chơi ấy, đa, hoa, chim ta không để bụng ham mê. Bà bảo mẫu họ Hoàng
    thường hỏi ta: “Về sau có muốn làm gì không?” ta nói: “Làm người con trai phải lập thân hành đạo, đó
    là phận sự rồi, không phải nói nữa. Sau này trưởng thành mà được lấy văn thơ nổi tiếng ở đời để cho
    người ta biết là con cháu nhà nọ nhà kia, chí tôi chỉ muốn như thế thôi”. Bà bảo mẫu nghe ta nói thế,
    lại mách cho đấng Tiên đại phu và bà cung nhân ta biết, các vị đều ban khen cả. Thấm thoắt hơn hai
    mươi năm trời mà lời dạy bảo của cha mẹ vẫn văng vẳng bên tai. Nay đến bước đường cùng lận đận,
    còn biết đội gạo vì ai (2) chỉ than thở cùng trời xanh, chứ biết gửi lòng mình vào đâu!
    Đấng tiên đại phu ta trải qua Hiến sát Nam Định, Tuần phủ Sơn tây, trong trắp vẫn thường có cái mũ
    với cái khăn, ta thường lúc đùa bỡn cứ hay lấy ra đội, mà thích nhất là cái mũ trãi quan (3). Dẫu cấm
    không cho chơi nghịch cũng không thể được. Có người đem những sách truyện Nôm và những trò chơi
    thanh sắc, nghề cờ bạc, rủ rê chơi đùa, thì ta bịt tai lại không muốn nghe. Ta đã học vỡ được ít kinh
    sử, thế mà chữ Nôm ta không biết hết, câu ca, bản đàn thoảng qua ngoài tai rồi lại lờ mờ không hiểu gì
    cả. Năm Giáp Thìn (1784) (4) ta mắc bệnh có nguy cơ đến tính mệnh; khỏi dậy, anh trưởng ta mới dạy
    ta đánh cờ tướng, ta học đánh vài năm, nhưng hễ đánh với ai là thua. Năm ngoài hai mươi tuổi, cùng
    với các bè bạn chơi cờ, lúc bấy giờ mới hiểu được cái thế công thủ trong cuộc cờ, nhưng lại không
    muốn để trí vào nữa. Còn như những trò chơi cờ bạc, phán thán (5) thì ta vốn không thích, đôi lúc đùa,
    thử tập chơi, nhưng ít lâu cũng chẳng hiểu cái thuật nó ra như thế nào. Đó cũng bới tư chất mình, trời
    cho cũng có phần mờ tối, không thể cưỡng mà học được các nghề chơi. Có điều, sau khi lưu lạc rồi,
    lại mắc phải cái bệnh nghiện chè Tàu. Khay chén thiếu thốn, tiền không đủ mua chè, mà vận nghiện.
    Nghiện quá, các thứ chè tùng quyế thơm tho, thứ nào cũng muốn mua nếm qua cả. Đã nhiều lần muốn
    chừa cho hẳn mà không chừa được. Còn nhớ khi bà cung nhân ta hãy còn, người thường lấy những
    điều cờ bạc chè rượu làm răn, mà nay ta đã ngoài ba mươi tuổi, bốn đều răn ấy (6) đã phạm mất ba.
    Đêm thanh vắng, suy xét, hối hận vô chừng. ta vẫn mong cố gắng sửa đổi, để khỏi phụ lời tiên huấn.
    Ta khi mới lên chín tuổi, đã học sách hán thư, được bốn năm thì đấng tiên đại phu ta mất. Trong mấy
    năm cư tang, gối đất nằm rơm, học hành buổi đực buổi cái, đến khi mãn tang rồi mới thôi không học
    sử nữa mà học đến kinh. Các sách cổ, thơ cổ, ta thường ham xem lắm, không lúc nào rời tay. Năm
    Nhâm Dần (1792), anh trưởng ta ra đi đua đòi ở chốn kinh đô (Thăng Long), anh hai ta ra trọ ở đất Hạ
    Hồng (Ninh Giang), chỉ có ta ở lại nhà để hầu hạ. Bà cung nhân ta thì ở trong nội tẩm (7), một mình ta
    ở ngoài trung đường (8), ngảnh mặt về hướng tây, vốn là chính tẩm (8) của đấng tiên đại phu ta ở
    trước. Phía tây xối nước (9) là nhà khách năm gian, trước mặt trông xuống cái ao vuông. Trong ao thả
    hồng liên và bạch liên, chung quanh bờ trồng thanh liễu và cam quít. Cách nhà khách năm sáu bước,
    lại chắn ngang một dặng rào trúc, từ phía nam nhà trung đương đến bờ ao phía tây; phía bắc thì dựng
    một cái bình phong che khuất đi. Phía đông ao giáp sân nhà khách, có trồng năm ba cây hoa nhài, hoa
    hồng, hoa ngâu, hoa mẫu đơn. Trông xa ra ngoài cánh đồng, cách hàng rào tre, thấp thoáng một cái
    quán trơ trọi. Mỗi lần ăn cơm sáng xong, ta ra nhà khách, trong đó chồng chất mấy giá sách, tùy ý
    muốn xem quyển nào thì xem. Mặt trời đã xế, trẻ mục đồng đuổi trâu về qua rào, vừa đi vừa hát, có
    đứa thì cuốn lá làm kèn mà thổi ti toe, ta đang ngủ ngày, sực tỉnh dậy, nghe tiếng hát xa, chẳng khác gì

    tiếng ca thuyền chài ánh ỏi ở đầu bến Nhược Gia (10). Tối đến, lúc mặt trăng mới mọc, đi tản bộ
    quanh bờ ao, ngâm nga mấy câu Đường thi cũng thú, hoặc tựa gốc dừa, cành hoa phất phơ trước mặt,
    ngồi bẻ bông tước lá thử chơi. Khi lẩn thẩn trở về nhà khách thì bóng nguyệt hương hoa vẫn còn phảng
    phất trên án thư, tràng kỷ. Ta thức đến gà gáy mới đi ngủ. Cuối mùa đông năm ấy, anh thứ ta từ phương
    xa trở về, lại cùng ta sớm tối được non một năm nữa. Nay anh hai ta đã mất rồi, cảnh gia đình thì tiêu
    điều, ta thì lưu lạc giang hồ, đoái nhìn non sông mờ mịt, khôn cầm giọt lệ (11).
    _______
    (1) Đại phu là cha, cung nhân là mẹ. Thêm chữ “tiên” để chỉ người đã quá cố.
    (2) Theo sách Gia ngữ của Khổng Tử, ngày xưa ông Tử Lộ thuật cuộc đời mình cho Khổng Tử nghe,
    có nói: “Ngày ngày tôi phải đi ra ngoài trăm dặm đội gạo về nuôi mẹ…” Ý nói: phụng thờ.
    (3) Trãi quan là thứ mũ của người chấp hành pháp lệnh đội; ở đây là mũ của thân sinh tác giả khi giữ
    chức Hiến sát.
    (4) Năm này, Phạm Đình Hổ 16 tuổi.
    (5) Một lối đánh bạc của người Trung Quốc, giống như lối đánh lú của ta.
    (6) Người ta thường răn bốn điều (tứ giới): tửu (rượu), sắc (gái), yên (thuốc phiện), đổ (đánh bạc)
    chứ không ai cấm uống chè tàu hoặc cấm đánh cờ. tác giả đã phạm ba điều là uống rượu, uống chè và
    đánh cờ, chỉ không đánh bạc.
    (7) Nội tẩm: lớp nhà trong.
    (8) Trung đường: lớp nhà giữa.
    (9) Xối nước: máng nước giữa hai mái nhà.
    (10) Nhược Gia là tên một cái ngòi ở phía nam thành Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc, các
    bài thơ cổ đều hay nhắc đến. Ở đây tác giả nhớ đến câu thơ của Lý Bạch trong bài Thái liên khúc
    (Khúc hát hái sen): Nhược Gia khê bàng thái liên nữ (Có cô con gái hái sen bên ngòi Nhược Gia).
    (11) Những câu nói này chứng tỏ Vũ trung tùy bút được viết sau khi nhà Lê mất và Tây Sơn lên cầm
    quyền, Phạm Đình Hổ đi dạy học ở các vùng nông thôn.

    CHUYỆN CŨ TRONG PHỦ CHÚA TRỊNH
    Khoảng năm Giáp Ngọ, Ất Mùi (1774 – 1775) trong nước vô sự, Thịnh Vương (Trịnh Sâm) (1) thích
    chơi đèn đuốc, thường ngự ở các ly cung bên Tây hồ, núi Tử Trầm, núi Dũng Thúy. Việc xây dựng
    đình đài cứ liên miên. Mỗi tháng ba bốn lần, Vương ra cung Thụy Liên bên bờ Tây hồ, binh lính dàn
    hầu vòng quanh bốn mặt hồ, các nội thần thì đều bịt khăn, mặc áo đàn bà, bày bách hóa chung quanh
    bờ hồ để bán.
    Thuyền ngự đi đến đâu thì các quan hô tụng đại thần tùy ý ghé vào bờ mua bán các thứ như ở cửa hàng
    trong chợ. Cũng có lúc cho bọn nhạc công ngồi trên gác chuông chùa Trấn Quốc, hay dưới bóng cây
    bến đá nào đó, hòa vài khúc nhạc.
    Buổi ấy, bao nhiêu loài trân cầm dị thú, cổ mộc quái thạch, chậu hoa cây cảnh ở chốn dân gian, chúa
    đều sức thu lấy, không thiếu một thứ gì. Có khi lấy cả cây đa to, cành lá rườm rà, từ bên bắc chở qua
    sông đem về. Nó giống như một cây cổ thụ mọc trên đầu non hốc đá, rễ dài đến vài trượng, phải một
    cơ binh mới khiêng nổ, lại bốn người đi kèm, cầm gươm đánh thanh la đốc thúc quân lính khiêng cho
    đều tay. Trong phủ, tùy chỗ, điểm xuyến bày vẽ ra hình núi non bộ trông giống như bến bể đầu non.
    Mỗi đêm khi đêm thanh cảnh vắng, tiếng chim kêu vượn hót vang khắp bốn bề, hoặc nửa đêm ồn ào
    như trận mưa sa gió táp, vỡ tổ tan đàn, kẻ thức giả biết đó là triệu bất tường. Bọn hoạn quan cung
    giám lại thường nhờ gió bẻ măng, ra ngoài dọa dẫm. Họ dò xem nhà nào có chậu hoa cây cảnh, chim
    tốt, khướu hay, thì biên ngay hai chữ “phụng thủ” (2). Đêm đến, các cậu trèo qua tường thành lẻn ra,
    sai tay chân đem lính tới lấy phăng đi rồi buộc cho tội đem dấu vật cung phụng để dọa lấy tiền. Hòn
    đá hoặc cây cối gì lớn quá, thậm chí phá nhà hủy tường để đem ra. Các nhà giàu bị họ vu cho là giấu
    vật cung phụng, thường bỏ của ra kêu van chí chết, có khi phải đập núi non bộ hoặc phá cây cảnh để
    tránh khỏi tai vạ. Nhà ta ở phường Hà Khẩu (3), huyện Thọ Xương, trước nhà tiền đường cũng trồng
    hai cây lựu trăng, lựu đỏ, lúc ra quả trông rất đẹp, bà cung nhân ta sai chặt đi cũng vì cớ ấy.
    _______
    (1) Còn gọi là Tịnh đô vương, làm Chúa từ năm 1767 đến năm 1782 đời Cảnh Hưng, Lê Hiển Tông.
    (2) Phụng Thủ tức là lấy để dâng chúa.
    (3) Phường Hà Khẩu là khu Hàng Buồm, Hà Nội bây giờ.

    LỤC HẢI (*)
    Kinh thành Thăng Long chia ra 36 phường, mỗi phường đặt một người phường trưởng. Lại đặt ra phủ
    Phụng Thiên có quan Phủ doãn, quan Thiếu doãn kiêm coi cả việc tuần phủ và việc liêm sát, đốc xuất
    hai huyện Thọ Xương và Quảng Đức, mỗi huyện có quan Huyện úy cai trị. Toàn thành thì cử một quan
    trọng thần sung chức Đề lĩnh tứ thành quân vụ, phân ra chánh phó hai dinh, chuyên coi việc cấm
    phòng, xét hỏi. Song đất kinh thành đông đúc, nhà cửa ở liền nhau, thường có hỏa hoạn, lại nhiều
    những kẻ đầy tớ nhà quan, du đãng cờ bạc, gây chuyện đánh nhau, cùng là những kẻ vô lại trộm cắp,
    nhiều lắm không thể kể xiết được, chẳng khác gì lục hải khi xưa.
    Đời Trịnh An Vương (1), Nguyễn Công Hãng làm thượng thư cầm quyền chính, mới chia hai huyện ra
    làm tám khu, mỗi khu đặt một người trưởng khu và một người phó khu; lại chia ra năm nhà là một tị,
    hai tị là một lư, mỗi lư cũng có một lư trưởng, bốn lư là một đoàn, một đoàn đặt một quản giám, hai
    quản điểm, dưới quyền người khu trưởng và trực thuộc quan Đề lĩnh. Đó là phỏng cái ý cổ nhân bảo
    trợ phù trì lẫn nhau. Phàm những việc phòng hỏa phòng trộm, và nhất thiết những việc giao dịch thuế
    má đều ủy trách cho khu trưởng, đoàn trưởng cả. Bởi vậy, những con nhà quan coi thường, không thèm
    làm, chỉ để những côn đồ trong các xóm chợ làm. Bọn chúng cùng những kẻ ti thuộc quan Đề lĩnh
    thông nhau làm càn, rất nhiễu cho dân phố.
    Ôi! Sinh nhất sự bất như trừ nhất hại, (thêm ra một việc không bằng bớt đi một tai hại) lời nói ấy rất
    đúng.
    Theo lệ cũ, chốn kinh thành không phải chịu thuế dung, thuế điệu (2), chỉ tính từng dẫy nhà, không cứ
    nhà quan hay nhà dân, hàng năm mỗi nhà phải chịu một suất đi sửa sang đắp lại nền cắm cờ tướng, dọn
    cỏ chung quanh cung đình, cung ứng các việc kiến trúc. Họ phải thay phiên nhau sắm đủ giây đòn, câu
    liêm, thang tre, bó đuốc, thùng gánh nước để theo quân quan Đề lĩnh đi túc trực các nơi điếm canh,
    phòng khi sai khiến; công việc rất là phiền nhiễu. Song tóm lại là không tiền không xong, chỉ làm nặng
    túi kẻ gian giảo. Tuy bảo: “bồi đắp gốc rễ, ngăn chặn ngọn cành”, tức là “phòng gian giữ...
     
    Gửi ý kiến