DINH THẦY THÍM

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Nguyễn Từ (Chuyên Lê Quý Đôn)
Người gửi: Lê Thanh Trí (trang riêng)
Ngày gửi: 05h:31' 02-10-2009
Dung lượng: 185.0 KB
Số lượt tải: 10
Nguồn: Nguyễn Từ (Chuyên Lê Quý Đôn)
Người gửi: Lê Thanh Trí (trang riêng)
Ngày gửi: 05h:31' 02-10-2009
Dung lượng: 185.0 KB
Số lượt tải: 10
Số lượt thích:
0 người
DINH THẦY THÍM
Dinh Thầy Thím tồn tại cách đây 130 năm - là di tích có giá trị nhiều mặt: Văn hoá, lịch sử, nghệ thuật điêu khắc. Song, vượt lên những công trình hiện hữu ấy là những giá trị văn hoá phi vật thể. Đó là đạo đức lối sống nhân ái, đạo nghĩa của vị Thần được thờ, mà bao năm qua đã trở thành biểu hiện văn hoá, cách ứng xử của người làng Tam Tân giàu lòng yêu nước và của đông đảo đồng bào chúng ta.
Dinh và sự tích Thầy Thím là một tài sản vô giá của làng Tam Tân. Tài sản đó không phải bỗng dưng có, mà nó được tạo dựng từ rất nhiều đời. Không phải được tạo dựng một cách đơn giản mà là quá trình lâu dài mang tính lịch sử, với sự đóng góp biết bao tình cảm và công sức của nhiều thế hệ.
Để hiểu đúng giá trị đằng sau những công trình mang tính lịch sử, chúng tôi sưu tầm và giới thiệu cuốn sách "Dinh Thầy Thím - 130 năm hình thành & phát triển".
Mặc dù có nhiều cố gắng, nhưng những thiếu sót trong quá trình biên soạn là không thể tránh được. Chúng tôi hy vọng nhận được những ý kiến đóng góp của bạn đọc, chúng tôi sẽ sửa chữa, bổ sung ngày một hoàn chỉnh hơn.
SỰ TÍCH DINH THẦY THÍM
Dinh Thầy Thím
Theo truyền thuyết: Ngày xưa, ở tỉnh Quảng Nam có một đạo sĩ giàu lòng nhân ái, võ thuật hơn người, thường có những nghĩa cử cao đẹp được dân làng mến mộ. Vì bị nhà Vua xét xử oan ức, nên đạo sĩ cùng vợ phiêu dạt vào phương Nam lánh nạn. Tam Tân một vùng quê xa xôi và trù phú trở thành nơi dừng chân cuối cùng của vợ chồng đạo sĩ. Và cũng từ đây, những truyền thuyết, đức độ của vợ chồng đạo sĩ được hết lòng ca ngợi, dân làng Tam Tân thân thiết gọi vợ chồng đạo sĩ là Thầy - Thím.
Thầy sinh vào những năm đầu của thời Gia Long, thuở thiếu thời, Thầy vừa cần mẫn dùi mài kinh sử, vừa tầm sư học đạo, nuôi chí giúp đời, ước muốn thoả chí tung hoành ngang dọc. Việc lớn chưa thành, danh chưa toại thì Thầy gặp đại tang, Cha, Mẹ cùng lúc qua đời. Là người con hiếu thảo, Thầy ở lại quê nhà cùng vợ là người cùng phủ chịu tang Cha, Mẹ, sống những ngày tháng kham khổ. Làng quê Thầy - Thím nhiều năm liền hạn hán, mất mùa, đời sống của nhân dân cơ cực, cơm không đủ no, nước không đủ uống. Động lòng trước nổi khốn khổ của dân, Thầy lập đàn khấn nguyện. Trời đang trong xanh bỗng sấm chuyển ầm ầm, mưa như trút nước, cây cỏ hồi sinh. Từ đó, Thầy nổi danh là một đạo sĩ có tài, dùng phép thuật của mình để cứu giúp dân lành.
Một lần trong ngày hội đầu năm, dân làng mơ ước có một mái đình khang trang để thờ phụng thần hoàng như ngôi đình to lớn nhưng thiếu người thờ phụng ở ngôi làng bên. Như cảm thông với nỗi khát khao của những tấm lòng thành kính với thần linh, đêm hôm ấy, gió mưa dữ dội, chớp giật rung chuyển cả đất trời báo trước một điềm lạ. Quả nhiên khi trời yên, đất lặng, mọi người thấy ngôi đình mới toạ lạc ngay giữa làng, ngôi đình dột nát trước đây đã không còn nữa. Dân làng kinh ngạc rồi reo hò vui mừng. Niềm vui ấy chưa được bao lâu, thì làng bên kia trống giục liên hồi, cấp báo về Triều đình tố cáo Thầy dùng phép đánh cắp đình, âm mưu gây bạo loạn.
Thế là nhà Vua nghiêm trị Thầy ở mức cao nhất. Song, cảm thông trước khí khái quân tử, nhà Vua gia ân cho Thầy được chọn trong ba tội hình: xử trảm, uống thuốc độc hoặc tự thắt cổ. Thầy xin một tấm lụa đào và chọn hình thức sau cùng. Kỳ lạ thay, khi tấm lụa đào đến tay Thầy bỗng trở nên có sức sống kỳ lạ. Thầy múa xong một bài cũng là lúc lụa biến thành rồng nâng Thầy và Thím bay bỗng lên không trung trước nổi kinh ngạc của quan lại và dân làng. Khi bay qua quê mình, Thím còn làm rơi xuống một chiếc hài như một lời nhắn thưa từ biệt, rồi lụa rồng bay về phương Nam...
Từ đó, Thầy - Thím đến cư ngụ tại làng Tam Tân (nay là xã Tân Tiến, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận). Dưới lớp áo của người xa quê đến lập nghiệp. Lúc đầu, Thầy - Thím ở trọ nhà ông Hộ Hai. Ngày ngày làm các nghề đốn củi, đóng ghe, bốc thuốc chữa bệnh cứu người. Có điều lạ là lúc nào bên Thầy cũng có quả bầu khô, người ta nói Thầy có phép "sái đậu thành binh" (gieo đậu thành binh lính). Một hôm nhân
Dinh Thầy Thím tồn tại cách đây 130 năm - là di tích có giá trị nhiều mặt: Văn hoá, lịch sử, nghệ thuật điêu khắc. Song, vượt lên những công trình hiện hữu ấy là những giá trị văn hoá phi vật thể. Đó là đạo đức lối sống nhân ái, đạo nghĩa của vị Thần được thờ, mà bao năm qua đã trở thành biểu hiện văn hoá, cách ứng xử của người làng Tam Tân giàu lòng yêu nước và của đông đảo đồng bào chúng ta.
Dinh và sự tích Thầy Thím là một tài sản vô giá của làng Tam Tân. Tài sản đó không phải bỗng dưng có, mà nó được tạo dựng từ rất nhiều đời. Không phải được tạo dựng một cách đơn giản mà là quá trình lâu dài mang tính lịch sử, với sự đóng góp biết bao tình cảm và công sức của nhiều thế hệ.
Để hiểu đúng giá trị đằng sau những công trình mang tính lịch sử, chúng tôi sưu tầm và giới thiệu cuốn sách "Dinh Thầy Thím - 130 năm hình thành & phát triển".
Mặc dù có nhiều cố gắng, nhưng những thiếu sót trong quá trình biên soạn là không thể tránh được. Chúng tôi hy vọng nhận được những ý kiến đóng góp của bạn đọc, chúng tôi sẽ sửa chữa, bổ sung ngày một hoàn chỉnh hơn.
SỰ TÍCH DINH THẦY THÍM
Dinh Thầy Thím
Theo truyền thuyết: Ngày xưa, ở tỉnh Quảng Nam có một đạo sĩ giàu lòng nhân ái, võ thuật hơn người, thường có những nghĩa cử cao đẹp được dân làng mến mộ. Vì bị nhà Vua xét xử oan ức, nên đạo sĩ cùng vợ phiêu dạt vào phương Nam lánh nạn. Tam Tân một vùng quê xa xôi và trù phú trở thành nơi dừng chân cuối cùng của vợ chồng đạo sĩ. Và cũng từ đây, những truyền thuyết, đức độ của vợ chồng đạo sĩ được hết lòng ca ngợi, dân làng Tam Tân thân thiết gọi vợ chồng đạo sĩ là Thầy - Thím.
Thầy sinh vào những năm đầu của thời Gia Long, thuở thiếu thời, Thầy vừa cần mẫn dùi mài kinh sử, vừa tầm sư học đạo, nuôi chí giúp đời, ước muốn thoả chí tung hoành ngang dọc. Việc lớn chưa thành, danh chưa toại thì Thầy gặp đại tang, Cha, Mẹ cùng lúc qua đời. Là người con hiếu thảo, Thầy ở lại quê nhà cùng vợ là người cùng phủ chịu tang Cha, Mẹ, sống những ngày tháng kham khổ. Làng quê Thầy - Thím nhiều năm liền hạn hán, mất mùa, đời sống của nhân dân cơ cực, cơm không đủ no, nước không đủ uống. Động lòng trước nổi khốn khổ của dân, Thầy lập đàn khấn nguyện. Trời đang trong xanh bỗng sấm chuyển ầm ầm, mưa như trút nước, cây cỏ hồi sinh. Từ đó, Thầy nổi danh là một đạo sĩ có tài, dùng phép thuật của mình để cứu giúp dân lành.
Một lần trong ngày hội đầu năm, dân làng mơ ước có một mái đình khang trang để thờ phụng thần hoàng như ngôi đình to lớn nhưng thiếu người thờ phụng ở ngôi làng bên. Như cảm thông với nỗi khát khao của những tấm lòng thành kính với thần linh, đêm hôm ấy, gió mưa dữ dội, chớp giật rung chuyển cả đất trời báo trước một điềm lạ. Quả nhiên khi trời yên, đất lặng, mọi người thấy ngôi đình mới toạ lạc ngay giữa làng, ngôi đình dột nát trước đây đã không còn nữa. Dân làng kinh ngạc rồi reo hò vui mừng. Niềm vui ấy chưa được bao lâu, thì làng bên kia trống giục liên hồi, cấp báo về Triều đình tố cáo Thầy dùng phép đánh cắp đình, âm mưu gây bạo loạn.
Thế là nhà Vua nghiêm trị Thầy ở mức cao nhất. Song, cảm thông trước khí khái quân tử, nhà Vua gia ân cho Thầy được chọn trong ba tội hình: xử trảm, uống thuốc độc hoặc tự thắt cổ. Thầy xin một tấm lụa đào và chọn hình thức sau cùng. Kỳ lạ thay, khi tấm lụa đào đến tay Thầy bỗng trở nên có sức sống kỳ lạ. Thầy múa xong một bài cũng là lúc lụa biến thành rồng nâng Thầy và Thím bay bỗng lên không trung trước nổi kinh ngạc của quan lại và dân làng. Khi bay qua quê mình, Thím còn làm rơi xuống một chiếc hài như một lời nhắn thưa từ biệt, rồi lụa rồng bay về phương Nam...
Từ đó, Thầy - Thím đến cư ngụ tại làng Tam Tân (nay là xã Tân Tiến, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận). Dưới lớp áo của người xa quê đến lập nghiệp. Lúc đầu, Thầy - Thím ở trọ nhà ông Hộ Hai. Ngày ngày làm các nghề đốn củi, đóng ghe, bốc thuốc chữa bệnh cứu người. Có điều lạ là lúc nào bên Thầy cũng có quả bầu khô, người ta nói Thầy có phép "sái đậu thành binh" (gieo đậu thành binh lính). Một hôm nhân
 






Các ý kiến mới nhất